|
Máy bay đến Côn Đảo luôn vào lúc sáng sớm, nghĩa là khi hòn đảo được
chiếu bởi muôn vàn những tia nắng chói lòa của buổi rạng đông. Nhìn từ
trên cao, đảo như một con gấu lớn quay lưng về đất liền phía tây, chân
trước xoãi ra Thái Bình Dương. Biển hiền lành với những con sóng nhẹ và
màu xanh muôn đời. Những cánh rừng nguyên sinh vẫn còn nguyên vẹn, và
ánh sáng lấp lóa hắt lên từ bờ cát. Hòn đảo khiến cho tâm trạng buổi
sáng của khách như bừng tỉnh. Đúng
vậy, có thể là giờ bay đến Côn Đảo được hãng hàng không tính toán theo
sự hợp lý của việc kinh doanh, nhưng về tâm trạng, buổi sáng là thời
khắc con người hay nghĩ đến những gì sắp tới. Do vậy, thời gian và cảnh
sắc ấy làm người ta dễ tạm quên đi cảm giác đang đặt chân lên mảnh đất
từng là địa ngục, là bãi tha ma với những mẩu xương người vùi trong cát
nóng…
Cách
nay mười bảy năm, tôi đặt chân lên Côn Đảo lần đầu trong cái nắng trưa
gay gắt và luồng gió phần phật táp mạnh xuống từ cánh quạt chiếc trực
thăng quân sự. Sân bay Cỏ Ống lúc ấy còn hoang sơ, và con đường ven đảo
cũ kỹ đầy ổ gà khiến chiếc xe Jeep cứ nẩy tung lên. Hồi ấy, hòn đảo vẫn
còn lẩn khuất cái u hoài của một mảnh đất bị bao phủ bởi một quá khứ
đau thương đầy máu. Thì lần này, với tôi, lại là cảm giác phấn khích
hơi tỉnh táo của một người quay trở lại nơi đã từng đến, để nhìn một sự
thay đổi, với tâm trạng nửa hy vọng, nửa lo lắng.
Sự
xô đẩy và những tác động thô bạo vào môi trường tự nhiên và tâm linh ở
nhiều khu di tích do công tác phục chế và đầu tư du lịch đã khiến ta
luôn bị ám ảnh bởi những ý nghĩ bi quan đầy tiêu cực. Sân bay Cỏ Ống đã
rộng hơn, hiện đại hơn để đón những chuyến ATR.72 chở du khách đến Côn
Đảo ba chuyến mỗi tuần. Con đường ven biển trải nhựa phẳng lì rộng rãi
chạy thẳng đến trung tâm và nhiều con đường mới khác nối những khu dân
cư mới được quy hoạch. Đã có nhiều sự đầu tư đổ vào nhưng hình như một
Côn Đảo với đầy đủ tính đặc thù vẫn chưa bị đe dọa lắm (tuy đã có dấu
hiệu manh nha), khiến cái cảm giác lo lắng và những ý nghĩ bi quan ban
đầu có phần được giải tỏa.
Bắt
đầu là sự hoang vắng! Nhưng sự hoang vắng và vẻ tĩnh lặng đầy sức gợi,
là đặc tính tự thân của Côn Đảo. Đặc tính ấy được tạo nên bởi thân phận
lịch sử của nó. Như khúc dạo đầu lặng lẽ, để từ từ dẫn dắt người ta vào
một bản giao hưởng buồn sau đó. Và những xúc cảm dữ dội cứ ào ạt dần
lên. Những dấu ấn thực dân, những chứng tích của cái ác, nhưng không
chỉ có vậy, bên cạnh những nhà tù với nền công nghệ cai trị và đàn áp
đến tàn bạo, còn có những dấu ấn về đời sống đô thị của một thời. Chúng
vẫn còn hiển hiện, đã tạo ra, và để lại cho hòn đảo những giá trị riêng
đầy bản sắc.
Hãy
nhìn toàn thể cấu trúc quy hoạch chung ở khu trung tâm. Một cơ cấu hoàn
chỉnh của hệ thống cai trị, điều hành, vận hành của một nơi giam giữ,
gồm nhà tù, các công sở phục vụ bộ máy cai trị và nuôi tù nhân, nhà ở
của nguời cai trị và cai tù. Tất cả đã được các nhà kiến trúc và quy
hoạch thực dân kiến tạo một cách hoàn hảo. Dinh chúa đảo, nhà công quán
với dấu ấn của nhạc sĩ lớn người Pháp Camllie Saint-Saens, ông đã ở đây
từ 20-3 đến 19-4-1895 để hoàn thành vở nhạc kịch Brunehilda. Những con
đường với hai hàng cây, khu phố cũ, hệ thống nhà ở của các chức sắc,
những dãy nhà trệt nền cao, với bậc thềm duyên dáng và dãy hành lang
phía trước, mái ngói dốc, mang một vẻ tinh tế của kiến trúc Pháp đã
được nhiệt đới hóa để phù hợp với khí hậu bản địa. Một không khí đô thị
cứ man mác một nỗi buồn, ấm cúng, hiền lành, và có chút gì lãng mạn.
Trong khung cảnh ấy, thật khó tưởng tượng rằng sự yên bình và khốc liệt
chỉ cách nhau một bức tường thôi, sang bên kia, lại là một thế giới của
cái ác và sự tàn bạo.
Kiến
trúc nhà tù Côn Đảo là một biểu hiện rất rõ sự tiến xa hơn về tính chất
dã man, tàn bạo, từ thời Pháp đến thời Mỹ. Nếu như ở thời Pháp, đó là
một tổng thể hoàn chỉnh với nhà nguyện, giảng đường, những dãy trại
giam tường gạch mái ngói, trần cao, bao quanh khoảng sân rộng rãi,
nhiều ít cũng có những bóng cây. Những cái cổng được nghiên cứu chăm
chút kỹ lưỡng về kiến trúc, như những trại Phú Hải, Phú Sơn, Phú Tường,
mà phần vỏ của kiến trúc còn có "tính người" (cho dù là để mỵ dân); thì
qua thời Mỹ, là những dãy trại giam thấp bé, mái bê tông mỏng đè lên
bốn bức tường như những cái hộp đặt nung dưới nắng lửa mùa hè. Chúng
thường nằm chơ vơ, rải rác ở những trại như Phú An, Phú Bình, Phú Hưng.
Nhà tù thời Mỹ mang một tính chất khủng bố rõ ràng, một sự thô bạo
không cần che đậy.
Nghĩa
trang Hàng Dương là nơi yên nghỉ của hàng vạn con người, nhưng theo
thống kê tổng cộng ở cả 4 khu A, B, C, D chỉ có 1.283 ngôi mộ, trong đó
có nhiều khu mộ tập thể. Như vậy là còn rất nhiều những nắm xương tàn
vẫn nằm rải rác các nơi. Những ngôi mộ ở Hàng Dương bây giờ nằm theo
hàng lối và được đánh dấu bởi những lá cờ. Nhưng nào ai khẳng định đã
không còn những mẩu xương người lẫn đó đây trong cát trắng? Hàng vạn
con người ngã xuống, hàng vạn linh hồn bay lên, những linh hồn bất diệt
và có cả những oan hồn. Những nấm mồ hữu danh và vô danh, những chí sĩ
yêu nước, nhà cách mạng, mà cái chết của họ đã trở thành bất tử. Nhưng
còn biết bao nhiêu những linh hồn khác, họ có thể ở các phe phái, các
tầng lớp xã hội khác nhau, những con người bình thường bất hạnh. Họ có
thể là người lương thiện hay kẻ bất lương, tà hay chính, nhưng đều chịu
chung một số phận đau đớn, u uất. Linh hồn của họ như còn lởn vởn dọc
hành lang trại tù, dưới gốc si cổ thụ, bên một bức tường xưa cũ, hay
đâu đó ở những bậc thềm hoang. Những cái chết đã được xác định, có
người tưởng niệm, lo hương khói. Nhưng còn biết bao nhiêu những linh
hồn vơ vẩn khác không ai thờ cúng? Trước kia, những người thiết kế
nghĩa trang Hàng Dương đã có một ý tưởng rất hay, là làm một cái tháp
chuông. Ở đó treo lên một cái chuông để gió trời thổi vào, và gióng lên
những hồi chuông như lời cầu nguyện. Những tiếng chuông nguyện vô tư
của trời, công bằng cho tất cả. Nhưng rồi không hiểu tại sao, ý tưởng
ấy không được thực hiện, đã thay vào đó là ba cây hương giả đồ sộ bằng
bê tông?
 Những
lớp sóng của lịch sử dân tộc đã dội vào Côn Đảo nhiều truyền thuyết.
Sinh hoạt tâm linh của người dân đảo là thờ hai nhân vật, đều là phụ
nữ. Bà Phi Yến, thứ phi của chúa Nguyễn Phúc Ánh, tức Nguyễn Ánh. Và Võ
Thị Sáu, một trinh nữ cộng sản kiên cường. Những nhân vật đã đi vào
huyền thoại. Một người đàn bà chết để giữ gìn phẩm tiết. Và một thiếu
nữ hy sinh vì lý tưởng cách mạng. Hai linh hồn, một chất chứa nỗi oan
khuất xót xa, và một là trinh nữ vô tư đón cái chết như đi đến với buổi
bình minh. Hồn thiêng đã làm run sợ cả những kẻ hung tàn. Đến Côn
Đảo, ta có tâm trạng như đến với một bản giao hưởng nhiều khúc đoạn. Nó
đưa đẩy cảm xúc con người theo từng phân cảnh. Khúc lặng lẽ yên bình
của biển, khúc trầm tư của núi, khúc lại cồn nên nỗi khắc khoải căm
hờn, rồi trở lại nhịp nhàng với vẻ thanh bình của một đời sống êm ả
trong lòng những khu phố cũ.
Một
mảnh đất mà mỗi di tích đều gắn với những cái chết. Cầu tàu 914 là 914
người tù ngã xuống vì lao dịch. Cầu Ma Thiên Lãnh chỉ có hai mố cầu dở
dang cũng đổi tới 356 mạng người. Thì linh hồn của hòn đảo như được hợp
nên từ hàng vạn những linh hồn đơn lẻ, nó bao phủ khắp nơi, ám vào
những di tích, và khiến những di tích như phát ra những lớp sóng từ, có
thể làm khuynh đảo mọi cảm giác, xoáy sâu vào lòng người. Di tích
chỉ là phần vật chất còn lại của lịch sử, nó có thể bị hủy hoại bởi
thời gian. Nhưng linh hồn của những di tích mới là cái tồn tại muôn
đời.
Côn Đảo - Sài Gòn, trước mùa Vu Lan 2006
BÀI: TẠ MỸ DƯƠNG ẢNH: T. M. D., NGUYỄN VĂN TẤT
|
 |